Tìm kiếm

Trà quán

Khi nghe tôi chia sẻ ý tưởng lập một cái gọi là "trà quán trên mạng", một người bạn của tôi đã thắc mắc rằng tại sao lại là trà quán chứ không phải là quán cà phê hay quán kem, hay một loại quán nào khác? Xem tiếp

Chủ nhân

Cho dù bạn đã biết tôi từ trước, cho dù bạn chỉ mới biết đến tôi khi tình cờ ghé ngang qua cái "trà quán" này, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là bạn đã ghé ngang qua và dừng lại ở cái góc đơn sơ này của tôi. Vậy thì, hãy để những "chén trà" hàn huyên gắn kết chúng ta! Xem tiếp

Nhớ Tết

Ngoảnh đi ngoảnh lại một cái, đã thấy Tết cận kề. Nắng đã bắt đầu hanh hanh một màu khó tả và những con phố đã đầu lấm tấm màu hoa mai hoa cúc vàng.

Buổi sớm xuống phố nghe trong gió bắt đầu có chút se se, chợt ước giá như mình được bé lại để cảm nhận Tết một cách rạo rực, náo nức và có chút gì đó huyền bí như những ngày còn thơ. Bởi có vẻ như khi người ta già đi, cái màu thơ mộng huyền ảo của Tết cũng nhạt nhòa đi ít nhiều. Thèm ghê đi một cái Tết mà Tết chỉ đơn giản là Tết với tất cả những háo hứng mong chờ, chứ không phải là chuyện lương chuyện thưởng, chuyện đường công danh sự nghiệp trong năm mới liệu có gần lại, hay chuyện mua mua sắm sắm biếu biếu ra sao…

Ước chán chê, rồi tự dưng nghĩ nghĩ: Có phải tại mình là đứa ưa hoài niệm, hay tại xưa nay Tết vẫn là tổng hòa của tất cả những mơ mộng lẫn lo toan như thế?

Nhưng mà mình nhớ Tết ghê!

Mình nhớ cái thùng nấu bánh chưng của ông nội. Cái thùng thiếc đen sì bình thường nằm lù lù trong góc bếp trông chẳng có gì hấp dẫn, vậy mà bỗng trở nên thiệt là “lộng lẫy” khi được đem ra cọ rửa rồi kê lên mấy cục gạch, dưới ánh lửa bập bùng của mấy cây củi gộc ở trong góc vườn. Nhớ cái đứa con nít là mình cứ nằng nặc đòi thức đêm canh bánh chưng cùng ông nội, vậy mà cứ gối đầu lên đùi ông là lại ngủ khò cho đến khi có tiếng thì thầm bên tai: “Dậy đi con, bánh sắp chín rồi!”.

Nhớ những cái Tết dạo quanh chợ hoa cả trăm vòng, mưa phùn bay lất phất đẫm cả khăn mà vẫn cố đi vài vòng nữa để lựa một cành đào đẹp nhất cho mẹ đỡ nhớ quê ngoại xa xôi nơi đất Bắc. Hoa chẳng phụ lòng người, vẫn rực rỡ thắm hồng trong mưa miền Trung. Hết tết, mẹ mang cây đào cắm xuống miếng đất sau nhà. Vậy mà cứ như một phép màu kỳ diệu, cây đào chẳng những trụ được qua mấy mùa  mưa dầm nắng cháy mà còn đơm lộc nở hoa cả mấy xuân sau. Nhà chuyển đi nơi khác, cây đào vẫn còn đó. Lâu lâu về qua nhà cũ, thấy cảnh xưa còn đó mà mọi thứ vắng vẻ hiu quạnh là tự nhiên lại nao nao mấy câu thơ của Thôi Hiệu: “Trước sau nào thấy bóng người. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.

Và nhớ cả những đêm giao thừa của ngày mới lớn. Canh đồng hồ vừa gõ boong qua năm mới là nài nỉ xin ba mẹ cho ra đường đạp xe đi chùa hái lộc đầu năm cùng chúng bạn, mà thực ra chỉ là để long rong ngoài đường và hy vọng sẽ nhìn thấy đâu đó trong dòng người đông đúc khuôn mặt của “ai đó”. Trông thấy nhau. Mỉm cười. Rồi thao thức với ánh mắt ấy cả một mùa xuân…

Đó là Tết của ký ức. Tết của ngày xưa.

Bây giờ, cứ giáp Tết là lại nghe ít nhất dăm ba người tặc lưỡi: “Ôi dào, Tết nhất làm gì, mệt đầu!”. Nhưng mình nghĩ, cho dù Tết ngày nay không còn đậm đà như xưa thì trong sâu thẳm ai cũng mong có Tết, dù có thể ngoài miệng họ nói không thèm Tết đi chăng nữa. Người ta cũng thường cho rằng Tết là dành cho kẻ sang. Nhưng mình lại nghĩ Tết cần nhất và ý nghĩa nhất với những người khó.

Những ngày cuối năm, mình thường thích vác máy hình đi chụp lại những khoảnh khắc đời thường của người dân lao động. Một chị công nhân miệt mài đắp luống hoa ở con đường mà mấy hôm nữa thôi sẽ thành một con đường hoa rực rỡ dập dìu nam thanh nữ tú qua lại. Một anh bán hàng nhựa rong tỉ mẩn chỉnh lại mấy chậu hoa mai giả ở bên vỉa hè. Một chị nội trợ hớn hở vì mua được mấy bông hoa xanh đỏ đèm đẹp để thay mới trên bàn thờ tổ tiên. Mình thấy Tết hiện lên trên khuôn mặt họ, dưới  ánh mắt vui mừng vì nhờ có Tết mà bán thêm được ít hàng. Hay chỉ đơn giản là một tiếng tặc lưỡi thôi thì rốt cuộc sau một năm quần quật cũng có được vài ngày thả cái quang gánh nặng trĩu trên vai xuống trước khi lại lao vào một cuộc mưu sinh mới.


Viết đến đây, lại bỗng nhớ về một cái Tết của ngày còn bé.

Tết năm ấy, nhà mình mở một quầy bán lịch. Ba “marketing” bằng cách chăng dây thép ở khoảng sân trước nhà, rồi đem các tờ lịch in hình các cô diễn viên chúm chím môi cười hay hình phong cảnh treo thành từng hàng phấp phới trong gió; nhìn từ xa là đã thấy “Tết” lắm.  Mỗi tờ giá hai nghìn đồng, đến chiều ba mươi là đã bán hết sạch. Cả nhà đang đóng quầy chuẩn bị giao thừa thì bỗng có một bác nông dân ghé vào, nài nỉ xin mua bằng được một tờ lịch.  Bác ngẩn người một lúc khi nghe mẹ nói đã bán hết sạch không còn tờ nào, rồi tiếp tục khẩn khoản xin cô để lại cho tôi “tờ lịch kia”. “Tờ lịch kia” là cái tờ lịch mẹ in tặng khách hàng và giữ lại một bản để treo trong nhà, trên lịch đã in chữ “Nhà sách Uyên Phương kính biếu”.  Nhìn tờ hai nghìn đồng nhàu nát run run trên tay bác và ánh mắt khẩn khoản in lên khuôn mặt khắc khổ với bao nếp nhăn dọc ngang của bác, mẹ tháo tờ lịch trên tường: “Thôi, con biếu bác”. Và cái khoảnh khắc bác cầm tờ lịch trên tay mỉm cười sung sướng, là cái khoảnh khắc một đứa bé con như mình lần đầu tiên cảm nhận được mùa xuân có thể làm sáng bừng khuôn mặt của một con người như thế nào.

Nhiều cái Tết nữa đi qua. Mình lớn lên, già đi, chai sạn đi, những vẫn mãi mãi không quên cái khoảnh khắc ấy. Cái khoảnh khắc nhắc nhớ mình phải tin vào mùa xuân, tin là dù trong khổ cực đắng cay thế nào đi nữa, con người cũng luôn hướng về cái đẹp chứ không chỉ những chuyện cơm áo gạo tiền. Như bác nông dân đã quyết định dành hai ngàn đồng chắt chiu từ bao vất vả ấy để mua một tờ lịch đáng giá một tấm quà tấm bánh. Và như một câu hát (mà mình mạn phép cải biên lại cho hợp tình hợp cảnh): “Mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và trái ngọt. Cuộc đời cần có cả những nụ hôn”.

Tết, là một nụ hôn!